Cám ơn bạn đã truy cập website chữa trị viêm khớp của chúng tôi

Trang thông tin chia sẻ kinh nghiệm phòng ngừa và chữa trị bệnh viêm khớp !


Mọi thắc mắc hay góp ý bạn có thể để lại nhận xét cho chúng tôi ! thuốc chữa viêm khớp


by

NGUYÊN NHÂN VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT BỆNH VIÊM ĐA KHỚP DẠNG THẤP

Viêm đa khớp dạng thấp là một bệnh khớp phổ biến có ảnh hưởng đến khoảng 1,3 triệu người ở Hoa Kỳ, theo số liệu điều tra hiện nay. Bệnh gặp ở phụ nữ nhiều gấp 3 lần ở nam giới và có thể gặp ở mọi chủng tộc, mọi lứa tuổi kể cả trẻ em viêm khớp thiếu niên tự phát, nhưng thường bắt đầu sau 40 tuổi và trước 60 tuổi.Viêm khớp dạng thấp là một bệnh mạn tính, có nghĩa là nó có thể kéo dài trong nhiều năm, thời gian ủ bệnh cũng khá dài khi đó bệnh nhân không có triệu chứng. Khi tình trạng viêm tiến triển, viêm khớp dạng thấp làm phá hủy sụn, xương, và dây chằng, gây sưng, đau, cứng khớp, biến dạng khớp, thậm chí là tàn phế. Nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm đa khớp dạng thấp như sau :

Nguyên nhân bệnh viêm đa khớp dạng thấp


Nguyên nhân tự miễn nhiễm: Hệ miễn nhiễm chúng ta, bao gồm những tế bào lâm ba (lymphocytes), tế bào đại thực bào (macrophages), tế bào plasma cells sinh ra những kháng thể và những chất gây viêm như cytokines, chemokines, interferon gamma tấn công vào bao hoạt dịch (synovium), các mạch máu nuôi dưỡng khớp. Lớp bao hoạt dịch dày ra, mọc thêm những villi (rễ dài ra) ăn mòn lớp sụn bọc trên các đầu xương và ăn mòn các đầu xương trong khớp.

Hai đầu xương không còn di chuyển trơn tru, sát với nhau, bên cạnh nhau như trước, mà trở thành hàn gắn lại với nhau, làm khớp cứng lại (ankylosis) không dùng được. Nước rút ra từ khớp có thể đục hơn vì nhiều tế bào viêm (bạch cầu). Tuy nhiên, câu hỏi tại sao cơ thể chúng ta lại tự tấn công như vậy chưa được giải đáp thoả đáng. 
NGUYÊN NHÂN VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT BỆNH VIÊM ĐA KHỚP DẠNG THẤP

Di truyền là một yếu tố quan trọng, người bệnh có một số gien (genes) làm cho bệnh xuất hiện mà người không bệnh không có. Môi trường cũng có vai trò đáng kể. Ví dụ: người hút thuốc lá có thể làm cơ nguy bị viêm thấp khớp tăng gấp đôi.

Trung bình tuổi người bệnh thấp khớp mạn tính là khoảng 68 tuổi, tuy nhiên có người bệnh sớm hơn, lúc hai mươi mấy hoặc ba mươi mấy tuổi như trường hợp của thính giả đặt câu hỏi. Trẻ em có thể bị viêm thấp khớp mạn tính gọi là thấp khớp thiếu niên (JRA) nếu xảy ra lúc trẻ dưới 16 tuổi. JRA cũng do hiện tượng tự miễn nhiễm và có nguồn gốc di truyền, ngoài triệu chứng sưng đau khớp xương, có thể gây viêm mắt làm cườm mắt, mờ mắt (viêm màng mạch nho, uveitis) và làm rối loạn tăng trưởng của người bệnh.

Viêm đa khớp dạng thấp là một bệnh gặp rất phổ biến, nhưng nguyên nhân của bệnh vẫn còn chưa được hiểu biết đầy đủ. Gần đây người ta cho rằng viêm đa khớp dạng thấp là một bệnh tự miễn, với sự tham gia của các yếu tố sau:

Tác nhân gây bệnh viêm đa khớp : có thể là virus, vi khuẩn, dị nguyên nhưng chưa được xác định chắc chắn.

Yếu tố cơ địa: bệnh có liên quan rõ rệt đến giới tính (70-80% bệnh nhân là nữ) và tuổi (60-70% gặp ở người trên 30 tuổi).

Yếu tố di truyền: viêm khớp dạng thấp có tính gia đình, có liên quan với kháng nguyên hóa hợp tổ chức HLA DR4 (gặp 60-70% bệnh nhân có yếu tố này, trong khi tỷ lệ này ở cộng đồng chỉ là 30%).

Các yếu tố thuận lợi khác: môi trường sống ẩm thấp, cơ thể suy yếu mệt mỏi, nhiễm lạnh, phẫu thuật.

Yếu tố di truyền

Trong một nghiên cứu trong viêm khớp và bệnh thấp khớp, khoảng 40% nguy cơ gây viêm khớp dạng thấp là do di truyền. Một số gen liên quan đến một loại protein được gọi là kháng nguyên bạch cầu người có thể khiến cho bệnh viêm khớp dạng thấp nguy hiểm hơn.

Một số hành vi như hút thuốc cũng có thể gây viêm khớp dạng thấp. Sự kết hợp của hút thuốc lá và một số gen như SE khiến cho viêm khớp dạng thấp càng nghiêm trọng hơn.

Các yếu tố nguy cơ khác

Theo các chuyên gia, béo phì cũng làm gia tăng khả năng mắc viêm khớp dạng thấp. Phụ nữ gấp khoảng 2-3 lần nguy cơ mắc viêm khớp dạng thấp hơn nam giới. Ngoài ra, theo Theo Trung tâm kiểm soát dịch bệnh, kích thích tố có thể đóng một vai trò trong nguy cơ viêm khớp dạng thấp ở phụ nữ.

Một số bệnh nhiễm trùng có thể gây ra sự khởi đầu của một hệ thống miễn dịch bị “lỗi”, dẫn đến viêm khớp dạng thấp nhưng không vẫn chưa được xác định một cách thuyết phục.

Quá trình của phát bệnh của bệnh viêm đa khớp


Giai đoạn khởi phát:

Bệnh thường khởi phát sau một yếu tố thuận lợi như: nhiễm khuẩn cấp tính, bán cấp tính, chấn thương, mổ xẻ, cảm lạnh, căng thẳng thể lực hay thần kinh bệnh có thể bắt đầu một cách từ từ tăng dần, có 70% bắt đầu bằng viêm một khớp, 15% bắt đầu đột ngột, 30% bắt đầu viêm khớp nhỏ: cổ tay, bàn ngón, khớp đốt gần. Bệnh nhân có thể sốt nhẹ, gầy sút, chán ăn, mệt mỏi. Các khớp bị viêm: sưng, hơi nóng, đau; đau tăng về đêm về sáng, có cứng khớp buổi sáng, có thể có tràn dịch ổ khớp. Thời kỳ này kéo dài vài tuần, có khi vài tháng. Tình trạng viêm khớp tăng dần và chuyển sang khớp khác.

Giai đoạn toàn phát:

Bệnh nhân mệt mỏi, gầy sút, chán ăn, teo cơ nhanh, sốt nhẹ, một số bị sốt cao, gai rét, các khớp sưng đau hạn chế vận động. Hay gặp ở các khớp cổ tay, khớp bàn ngón tay, đốt gần, khớp gối, cổ chân, khớp khuỷu, các khớp vai, háng, cột sống ít bị, nếu bị thì thường ở giai đoạn muộn.

Khớp cổ tay: sưng, đau, hạn chế vận động gấp, duỗi, thường sưng nề về phía mu tay, biến dạng nổi gồ lên trông như cái “thìa úp” hoặc như “lưng con lạc đà” lâu dần dẫn đến cứng khớp cổ tay ở tư thế thẳng.

Khớp ngón tay

Viêm các khớp đốt gần, khớp bàn ngón, thường gặp ở ngón 2, 3, 4, ít gặp ngón 1 và 5, sưng đau hạn chế vận động. Bệnh nhân không nắm chặt được các ngón tay vào lòng bàn tay, teo cơ liên cốt, cơ gấp duỗi ngón, dần dần dính và biến dạng tạo thành ngón tay hình thoi, các ngón lệch trục về phía xương trụ tạo nên bàn tay gió thổi. Ngón tay biến dạng, dính giống “cổ thiên nga”, ngón cái giống hình chữ Z.

Khớp gối (thường bị sớm): sưng to, đau, hạn chế gấp duỗi, phù nề tổ chức cạnh khớp, có thể có tràn dịch ổ khớp (làm dấu hiệu bập bềnh xương bánh chè dương tính). Đôi khi có thoát vị bao hoạt dịch về phía khoeo tạo nên túi phình Baker, teo cơ đùi, cơ cẳng chân. Khớp gối dính ở tư thế nửa co.

Khớp khuỷu: 

Sưng, đau, hạn chế vận động gấp duỗi.

Khớp cổ chân:

Sưng, đau, phù nề cả bàn chân, đôi khi có tràn dịch, có thể dính ở tư thế duỗi “bàn chân ngựa”.

Các khớp ngón chân: 

Viêm khớp bàn , ngón và khớp ngón chân cái tạo tư thế ngón cái quặp vào ngón trỏ, các ngón khác sưng đau, đau gót chân, bàn chân mất lõm. Lâu dần các ngón chân như thu ngắn lại tạo ra hình ảnh ngón chân rụt.

0 nhận xét :

Đăng nhận xét